Tích hợp nguồn lực, lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển sinh kế bền vững là những yêu cầu đặt ra đối với Vĩnh Long khi triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia 417 giai đoạn 2026–2030. Trên không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính, chương trình hướng tới không chỉ hoàn thiện hạ tầng nông thôn mà còn nâng cao thu nhập, bảo tồn bản sắc văn hóa và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các cộng đồng dân cư.
làm đường giao thông tại địa bàn đồng đồng bào dân tộc thiểu số thuộc tỉnh Vĩnh Long |
Từ nền tảng chính sách đến đổi mới phương thức triển khai Sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Vĩnh Long mới chính thức vận hành từ ngày 1/7/2025, với không gian phát triển rộng hơn, bao gồm các vùng nông nghiệp, địa bàn ven biển và nhiều khu vực tập trung đông đồng bào dân tộc Khmer, Hoa. Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, sinh kế và dân cư tạo thêm cơ hội liên kết vùng, đồng thời đặt ra yêu cầu triển khai chính sách linh hoạt, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn.
Theo thông tin đăng trên trang nghiên cứu của Bộ Tài chính ngày 29/8/2025, Vĩnh Long có hơn 373.640 người dân tộc thiểu số, chiếm 8,9% dân số toàn tỉnh, chủ yếu là đồng bào Khmer và Hoa.
Những năm qua, các chương trình mục tiêu quốc gia và chính sách dân tộc đã góp phần cải thiện đời sống người dân. Theo Báo Vĩnh Long, đến tháng 9/2025, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer còn 1,6%, hộ cận nghèo còn 3,2%. Hệ thống giao thông nông thôn, nhà ở, nước sinh hoạt và trường học từng bước được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất và sinh hoạt.
Tuy nhiên, giảm nghèo và hoàn thiện hạ tầng mới là nền tảng ban đầu. Yêu cầu trong giai đoạn tiếp theo là phát huy hiệu quả các công trình đã đầu tư, tạo sinh kế ổn định, nâng cao khả năng tự chủ kinh tế và hạn chế tái nghèo.
Đây cũng là định hướng đặt ra khi triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030, được phê duyệt tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Cụ thể hóa chủ trương này, ngày 13/5/2026, Tỉnh ủy Vĩnh Long ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về thực hiện chương trình trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035. Tiếp đó, Kế hoạch số 241/KH-UBND ngày 30/6/2026 xác định nhiệm vụ triển khai chương trình trong năm 2026.
Điểm đáng chú ý của Chương trình 417 là cách tiếp cận tích hợp, tăng cường phối hợp giữa các nội dung xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thay vì triển khai các hạng mục theo từng lĩnh vực riêng rẽ, yêu cầu đặt ra là kết nối đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề và giải quyết việc làm trong một kế hoạch phát triển tổng thể, phù hợp với nhu cầu thực tế của từng địa bàn.
Theo đó, đầu tư giao thông cần gắn với khả năng vận chuyển nông sản và tiếp cận thị trường; hỗ trợ cây, con giống phải đi cùng hướng dẫn kỹ thuật, vốn sản xuất và đầu ra; đào tạo nghề cần đáp ứng nhu cầu việc làm tại chỗ hoặc cơ hội tham gia các chuỗi sản xuất, dịch vụ. Việc lựa chọn dự án cũng cần dựa trên những điểm nghẽn thiết yếu, tránh đầu tư dàn trải hoặc hoàn thành công trình nhưng hiệu quả sử dụng chưa tương xứng.
Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu hộ nghèo, theo dõi tiến độ dự án và công khai kết quả cũng có thể góp phần nâng cao tính minh bạch, hỗ trợ phân bổ nguồn lực sát thực tế. Tuy nhiên, việc triển khai cần phù hợp với năng lực cán bộ cơ sở và khả năng tiếp cận công nghệ của người dân.
Gắn trách nhiệm thực hiện với hiệu quả sinh kế Cùng với cách tiếp cận tích hợp, Chương trình 417 đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm của từng cấp, từng ngành. Cấp tỉnh cần chủ động điều phối nguồn lực, hướng dẫn chuyên môn và tháo gỡ khó khăn; chính quyền cấp xã phải nắm chắc nhu cầu dân cư, xác định thứ tự ưu tiên và theo dõi hiệu quả sau đầu tư. Công khai danh mục dự án, đối tượng thụ hưởng, kế hoạch vốn và tiến độ thực hiện sẽ tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát, hạn chế tình trạng đầu tư thiếu trọng tâm.
Trong phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ sinh kế cần xuất phát từ điều kiện đất đai, nguồn nước, tập quán sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường của từng nhóm hộ. Thực tế tại khu vực Nhị Trường cho thấy, một số hộ dân đã phát triển các mô hình trồng màu luân canh, nuôi heo và bò sinh sản, qua đó cải thiện thu nhập.
Từ thực tiễn này, Vĩnh Long có thể lựa chọn giải pháp phù hợp với lợi thế từng địa bàn: vùng có thế mạnh nông nghiệp chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển hợp tác xã và liên kết tiêu thụ; khu vực ven biển cần quan tâm sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu; còn những hộ thiếu đất sản xuất có thể được hỗ trợ đào tạo nghề, kết nối việc làm và tiếp cận tín dụng chính sách.
Điều quan trọng là hỗ trợ không dừng ở việc cấp vốn, cây, con giống hay tổ chức lớp đào tạo, mà phải đi cùng hướng dẫn kỹ thuật, quản lý chi phí, kết nối thị trường và theo dõi kết quả sau đầu tư. Hiệu quả cần được đánh giá bằng khả năng duy trì sản xuất, mức cải thiện thu nhập và khả năng tự bảo đảm cuộc sống của người dân.
Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2021–2025 của tỉnh cho thấy tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm bình quân hằng năm 2,2%, cao hơn mức kế hoạch 2%. Đây là cơ sở để địa phương tiếp tục phát huy các giải pháp hiệu quả, đồng thời chú trọng giảm nghèo đa chiều và hạn chế tái nghèo trong giai đoạn mới.
Bên cạnh phát triển kinh tế, bảo tồn bản sắc văn hóa cũng cần được đặt trong tổng thể chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc gìn giữ tiếng nói, chữ viết, lễ hội và sinh hoạt văn hóa cộng đồng góp phần duy trì các giá trị truyền thống, tăng cường sự gắn kết giữa các thế hệ. Phát triển kinh tế vì vậy cần song hành với bảo tồn văn hóa, bảo đảm người dân vừa nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa gìn giữ bản sắc dân tộc.
Phát huy vai trò chủ thể của người dân Một trong những điều kiện quyết định hiệu quả của Chương trình 417 là bảo đảm đồng bào dân tộc thiểu số thực sự tham gia vào quá trình phát triển. Người dân cần được tham gia xác định nhu cầu, lựa chọn mô hình sinh kế, thống nhất phương án đầu tư, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Công tác tuyên truyền cũng cần chuyển từ phổ biến văn bản, chỉ tiêu sang hướng dẫn những nội dung thiết thực như điều kiện thụ hưởng chính sách, thủ tục tiếp cận vốn, cơ hội đào tạo nghề và trách nhiệm của cơ quan thực hiện. Phát huy vai trò người có uy tín, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư sẽ giúp chính sách đến đúng đối tượng, phù hợp với phong tục, tập quán từng địa bàn.
Cùng với đó, cần duy trì cơ chế tiếp nhận phản ánh từ cơ sở, công khai kết quả thực hiện và xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị. Hiệu quả chương trình không chỉ được đo bằng số công trình hoàn thành, số hộ được hỗ trợ hay số lớp đào tạo được tổ chức, mà quan trọng hơn là số hộ có sinh kế ổn định, thu nhập được cải thiện, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, nước sạch được nâng cao và nguy cơ tái nghèo từng bước giảm xuống.
Từ nền tảng đã đạt được trong giai đoạn trước, Chương trình 417 đặt ra yêu cầu mới đối với Vĩnh Long: tích hợp nguồn lực gắn với đặc thù từng địa bàn, nâng cao trách nhiệm tổ chức thực hiện và kết hợp đầu tư hạ tầng với phát triển sinh kế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Khi các dự án được triển khai đồng bộ, người dân tham gia thực chất và hiệu quả đầu tư được đánh giá bằng những thay đổi trong đời sống, nguồn lực chương trình mới có thể tạo chuyển biến bền vững. Đây là cơ sở để Vĩnh Long tiếp tục thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống đồng bào Khmer, Hoa và các cộng đồng dân cư, hướng tới xây dựng nông thôn mới thực chất, bao trùm trong giai đoạn 2026–2030.
An Luých