Ứng dụng công nghệ thông tin tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai đang mở ra những cơ hội mới, từ tiếp cận thông tin đến quảng bá nông sản, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực kinh doanh. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, năng lực cung ứng, chi phí vận chuyển, dịch vụ hậu cần và khả năng duy trì khách hàng. Lợi ích của thương mại điện tử sẽ rõ nét hơn khi công nghệ được kết hợp với tổ chức sản xuất theo nhóm hộ, hợp tác xã và chuỗi liên kết với doanh nghiệp.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, giới thiệu và kết nối tiêu thụ nông sản. |
Đưa công nghệ về buôn làng, khơi thông nguồn lực phát triển Với lợi thế về cà phê, hồ tiêu, mắc ca, mật ong và nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, Gia Lai có dư địa lớn để ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Nếu trước đây hoạt động mua bán của nhiều hộ sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào thương lái và thị trường địa phương, các nền tảng trực tuyến đang mở ra khả năng tiếp cận khách hàng ở phạm vi rộng hơn.
Ở xã Chư Pưh, việc ứng dụng mã QR và tem điện tử truy xuất nguồn gốc giúp người tiêu dùng có thêm thông tin để kiểm tra sản phẩm. Các kênh như Zalo, Facebook, TikTok và sàn thương mại điện tử cũng tạo điều kiện để hợp tác xã giới thiệu nông sản tới khách hàng ngoài địa bàn. Một số sản phẩm như mật ong rừng, mắc ca, cà phê và tinh dầu sả đã được giới thiệu, tiêu thụ qua các nền tảng số.
Tại xã Ia Ly, các Tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt. Việc hướng dẫn được thực hiện ngay tại nhà dân, tranh thủ thời gian sau những giờ lao động trên nương rẫy.
Ghi nhận tại xã Lơ Pang cho thấy, cán bộ cơ sở hướng dẫn trực tiếp trên điện thoại thông minh bằng các thao tác cụ thể để người dân sử dụng các nền tảng số về thương mại, mạng xã hội nhằm tìm hiểu thông tin chính sách pháp luật và các gian hàng điện tử, cũng như cách thức quảng bá giới thiệu sản phẩm trên nền tảng mạng xã hội.
Lãnh đạo xã cho biết, Lơ Pang có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 83,6% dân số, yêu cầu đặt ra là giúp người dân hiểu, sử dụng được công nghệ và từng bước ứng dụng vào công việc hằng ngày. Chuyển đổi số đang bắt đầu từ những việc làm thiết thực: hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, tiếp cận thông tin thị trường, thanh toán điện tử và thực hiện các thủ tục hành chính trực tuyến. Những thay đổi tưởng chừng nhỏ này đang tạo tiền đề để đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận phương thức sản xuất, kinh doanh hiện đại.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công nghệ thông tin còn mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, thông tin việc làm và các dịch vụ thiết yếu. Khi biết tìm kiếm, kiểm chứng và sử dụng thông tin hiệu quả, người dân có thêm cơ sở để đưa ra quyết định phù hợp với điều kiện kinh tế của gia đình
Cùng với đó, việc số hóa thông tin vùng trồng, quy trình canh tác và nguồn gốc sản phẩm có thể giúp nâng cao độ tin cậy của nông sản. Đây là điều kiện quan trọng để từng bước đáp ứng yêu cầu của các thị trường có tiêu chuẩn cao, đồng thời tạo cơ sở phát triển những sản phẩm đặc trưng gắn với bản sắc văn hóa địa phương. Đây cũng là nền tảng quan trọng để Gia Lai thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế số gắn với bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực và nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Cần những giải pháp đồng bộ Ngày 22/1/2026, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Kế hoạch số 28/KH-UBND về chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh năm 2026. Tiếp đó, trong tháng 3/2026, tỉnh công bố định hướng chiến lược chuyển đổi số đến năm 2030, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Để những định hướng này tạo chuyển biến rõ nét tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, ưu tiên hạ tầng số tại địa bàn khó khăn. Tiếp tục rà soát những khu vực kết nối Internet chưa ổn định, hỗ trợ người dân tiếp cận thiết bị phù hợp và tạo điều kiện để các hợp tác xã, cơ sở sản xuất sử dụng nền tảng số với chi phí hợp lý.
Thứ hai, đưa đào tạo kỹ năng số gắn với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Các lớp tập huấn cần tập trung vào những việc người dân có thể áp dụng ngay, từ quảng bá nông sản, quản lý đơn hàng đến thanh toán điện tử và truy xuất nguồn gốc. Nội dung hướng dẫn nên ngắn gọn, dễ hiểu, có thể sử dụng tiếng Jrai, Bahnar khi cần thiết.
Thứ ba, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Chính quyền địa phương cần phối hợp với doanh nghiệp, hợp tác xã và các đơn vị phân phối để lựa chọn sản phẩm có tiềm năng, hoàn thiện bao bì, tiêu chuẩn chất lượng, thông tin truy xuất nguồn gốc và phương án vận chuyển. Việc đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử cần đi kèm kế hoạch duy trì đầu ra, thay vì chỉ chú trọng số lượng gian hàng được mở.
Thứ tư, bảo đảm an toàn trong môi trường số. Người dân cần được hướng dẫn nhận biết thông tin giả mạo, phòng tránh lừa đảo trực tuyến, bảo vệ tài khoản và không tùy tiện cung cấp dữ liệu cá nhân. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng niềm tin, giúp người dân an tâm giao dịch và phát triển kinh doanh trên môi trường mạng.
Thứ năm, đánh giá hiệu quả bằng kết quả kinh tế thực chất. Bên cạnh các chỉ tiêu về hạ tầng, tài khoản và kỹ năng số, cần quan tâm đến số hộ sản xuất có đơn hàng ổn định, mức độ mở rộng thị trường, chi phí giao dịch được tiết kiệm, thu nhập được cải thiện và khả năng duy trì sinh kế sau khi kết thúc hỗ trợ.
Bên cạnh những định hướng trên, cũng không thể xem chuyển đổi số là giải pháp thay thế toàn bộ các phương thức truyền thông và hỗ trợ trực tiếp. Với người cao tuổi, hộ nghèo hoặc những người chưa thành thạo công nghệ, thì loa phát thanh, sinh hoạt cộng đồng và sự hướng dẫn của cán bộ cơ sở vẫn giữ vai trò cần thiết. Kết hợp hài hòa giữa phương thức truyền thống và nền tảng số sẽ giúp chính sách đến đúng đối tượng, hạn chế nguy cơ người dân bị bỏ lại phía sau.
Chuyển đổi số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai đang mở ra những cơ hội mới, từ tiếp cận thông tin đến quảng bá nông sản, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực kinh doanh. Tuy nhiên, đưa nông sản lên môi trường số mới chỉ là bước khởi đầu. Hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, năng lực cung ứng, chi phí vận chuyển, dịch vụ hậu cần và khả năng duy trì khách hàng. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, lợi ích của thương mại điện tử sẽ rõ nét hơn khi công nghệ được kết hợp với tổ chức sản xuất theo nhóm hộ, hợp tác xã và chuỗi liên kết với doanh nghiệp. Thay vì mỗi hộ tự tìm khách hàng, các chủ thể có thể phối hợp xây dựng thương hiệu chung, thống nhất chất lượng, quy cách đóng gói, thời gian giao hàng và phương thức thanh toán. Vì vậy, cần kết hợp hỗ trợ kỹ thuật số với nâng cao chất lượng sản xuất và xây dựng chuỗi tiêu thụ ổn định.
Bùi An